Thứ Năm, 23 tháng 6, 2011

Ký ức người lính giữ Trường Sa

Một bộ đồ xanh cũ kĩ, có pha thêm màu nắng, màu đất đỏ và màu sương gió. Một dáng hình mảnh khảnh và một chiếc xe đã tàn, anh kể chuyện trai trẻ, nụ cười mấp mé mà đôi mắt như dại đi…chuyện của chàng thanh niên Trương Văn Hiền 23 năm về trước…

Trận tử chiến ở tuổi 18

Nhập ngũ năm 1986, khi tuổi đời vừa tròn 18, anh rời Hà Tĩnh và gia nhập vào Tiểu đoàn 6, Hải Đồ thuộc Bộ Tham mưu Hải Quân. Hai năm sau, khi Việt Nam mở chiến dịch đánh dấu chủ quyền ( gọi tắt là chiến dịch CQ88 kéo dài hơn năm tháng), anh nhận lệnh lên đường làm nhiệm vụ bảo vệ quần đảo Trường Sa.

23 năm trước. Ảnh do nhân vật cung cấp.

Chừng 7h30’ sáng 14.3.1988, tàu HQ604 của anh bị nã pháo và tấn công. “Trước tình hình cấp bách, tôi hiểu rằng tương quan lực lượng như vậy, và thế bị động của chúng tôi, số phận của tôi rồi cũng không khác hơn những đồng đội của mình đã ngã xuống. Một thoáng tôi nghĩ rằng mình không thoát khỏi cái chết. Khi người ta rơi vào bước đường cùng thì có lẽ ai cũng sẽ nghĩ như tôi, tôi nghĩ rằng mình đằng nào cũng chết thì phải chết trong danh dự, cho xứng đáng với lời thề khi ra đi, cho xứng đáng với những hi sinh của đồng đội mình. Nhìn thấy đồng đội lần lượt ngã xuống,tôi không còn nhớ là những ai đang chiến đấu cùng mình nữa, tôi không biết là lúc đó ai còn sống sót. Tôi đã chiến đấu trong điên cuồng và bị thương nặng trong khi đồng đội hi sinh gần hết.” . Anh không còn nhớ được chính xác thế trận tại Gạc Ma thời điểm đó, trên tàu có vài vũ khí thô sơ, anh cầm khẩu AK47 đứng mé boong tàu và chỉ biết “bắn – bắn và bắn”. Pháo, đạn liên tiếp khiến tàu HQ604 bị chìm (khoảng 8h). Thoát ra khỏi tàu, anh bơi trong tuyệt vọng, sóng biển và vết thương đau nhói khiến máu anh sôi sục vì căm thù. Vớ được mảnh gỗ vỡ ra từ con tàu, anh cột mình vào bằng chiếc quần dài, và cứ thế, lênh đênh trên biển ba ngày hai đêm, cho tới khi Trung Quốc trục vớt và đưa về làm tù binh.

Sống mòn

Cắn môi, anh ngậm ngùi: “Ba năm tù đày là quãng thời gian không bao giờ tôi quên được”. Cuộc sống trên đất nước bạn bắt đầu bằng chén cháo loãng và khúc bánh mì rỗng ruột, những “dây cao su” và một loạt các câu hỏi. Trong cơ cực, nếu không thể vượt lên nó, cũng không thể kết thúc nó thật nhanh thì người ta sẽ cắn răng chịu đựng trong mỏi mòn.

Sau khi về nước, anh và đồng đội ( tám chiến sỹ khác) được an dưỡng tại Hải Phòng, được tặng huân chương kháng chiến hạng Ba và giấy chứng nhận bị thương. Cuộc sống phiêu bạt nay đây mai đó, bão lũ cuốn trôi giấy tờ, và tất cả những gì ghi dấu cuộc đời trai trẻ của anh.

Hai mươi năm sau ngày tự do, anh vẫn mang trên mình thương tật ( bị thương ở tay trái và bên sườn) nhưng không phải là thương binh, không bằng cấp, không giấy tờ. Quá khổ cực để sống. Giữa thủ phủ cà phê, anh không có được mảnh đất xây nhà, nghĩ gì đến héc-ta trồng cà. Cuộc sống làm thuê qua ngày, trang trải cho một gia đình bốn miệng ăn và hai bé nhỏ đang tuổi đến trường. Mỗi khi trái gió trở trời, vết thương đau nhức hành hạ, nhưng cái nghèo cứ trơ trẽn đó, người ta phải tính toán từng đồng để chi cho cái ăn hơn là bỏ tiền vào thuốc. Đến khi thập tử nhất sinh mới liều tới bệnh viện, “nhà nghèo thì ai cũng thế” – anh tặc lưỡi.
23 năm sau trận chiến...

Vật vã kiếm sống, ký ức trong anh ngày một mờ dần đi. Những thông tin liên lạc với đồng đội cũng là cái gì đó quá xa vời. “Tôi chỉ có hai mong ước rằng: một là có thể đảm bảo cho cuộc sống của hai con được no đủ, học hành đến nơi đến chốn; hai là tôi được găp lại đồng đội của mình, những người đã cùng tôi chiến đấu, đã sống cùng tôi những tháng ngày không thể nào quên. Hoàn thành được hai tâm nguyện này là tôi đã mãn nguyện lắm rồi”.

Trong ảnh là 9 chiến sĩ được Trung quốc trao trả, vợ anh Phụng cùng hai đồng chí cán bộ dân sự khác. Các chiến sĩ mặc áo xanh hải quân theo thứ tự: hàng trên: Lê Văn Đông, Nguyễn Văn Thông, Trần Thiện Phụng, Phạm Văn Nhân, Nguyễn Tiến Hùng; hàng dưới: Trương Văn Hiền, Lê Minh Thoa, Mai Văn Hải, Dương Văn Dũng.. Ảnh do nhân vật cung cấp.

Ngoài anh ra, chúng tôi còn được biết tám đồng đội đã cùng anh “vào sinh ra tử”:

1. Nguyễn Tiến Hùng, Quảng Xương, Thanh Hóa. (số 9 trong danh sách công bố của báo Nhân Dân xuất bản 28.3.1988)

2. Lê Minh Thoa, Bình An, Tây Sơn, Nghĩa Bình (số 10 trong danh sách công bố của báo Nhân Dân xuất bản 28.3.1988)

3. Nguyễn Văn Thông, Nhân Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình. (số 46 trong danh sách công bố của báo Nhân Dân xuất bản 28.3.1988).

4. Lê Văn Đông, Tây Trạch, Bổ Trạch, Bình Trị Thiên. (số 47 trong danh sách công bố của báo Nhân Dân xuất bản 28.3.1988)

5. Trần Thiện Phụng, Phường 2, Đông Hà, Bình Trị Thiên. (số 49 trong danh sách công bố của báo Nhân Dân xuất bản 28.3.1988)

6. Mai Văn Hải, Liêm Trạch, Bổ Trạch, Bình Trị Thiên. (số 55 trong danh sách công bố của báo Nhân Dân xuất bản 28.3.1988)

7. Nguyễn Văn Tiến, Nam Định. (số 65 trong danh sách công bố của báo Nhân Dân xuất bản 28.3.1988)

8. Dương Văn Dũng, tổ 53, Hòa Cường, Quảng Nam-Đà Nẵng (số 67 trong danh sách công bố của báo Nhân Dân xuất bản 28.3.1988)

Không biết đến khi nào, tâm nguyện của anh mới được hoàn thành?

Bài đăng trên Nhịp Cầu Thế Giới

Thứ Ba, 21 tháng 6, 2011

Phía sau những người đã ngã xuống vì Trường Sa


Trên Internet lan truyền một video/clip ghi lại hình ảnh về “Vòng tròn bất tử” được các chiến sỹ công binh Việt Nam tạo nên xung quanh cột cờ Tổ Quốc để ngăn cản lính hải quân Trung Quốc xông lên cướp cờ, bảo vệ chủ quyền biên cương - Đó là hình ảnh trên bãi đá Gạc Ma những ngày tháng ba năm 1988. Trong đó, 9 chiến sỹ bị Trung Quốc bắt giữ, 61 chiến sỹ mất tung tích và 3 chiến sỹ hi sinh… Cuộc đời của những con người ấy sau hai mươi ba năm là những lá thư còn sót lại, những giọt nước mắt lăn dài trên má mẹ, là sự cơ cực, vất vả trong những bon chen cuộc sống…

Mẹ Trường Sa

Tôi trở lại Đà Nẵng vào một ngày mùa đông, phố xá còn ẩm ướt và gió rét căm căm. Hướng mắt về phía ngoài khơi kia là Hoàng Sa, và câu chuyện Trường Sa lại cháy lên, như ngọn lửa ấm lòng nhưng cũng mang đầy trăn trở.

Ngồi đối diện với mẹ Hồ Thị Lai, đôi mắt trũng sâu của mẹ làm sống mũi tôi cay cay, mẹ đang khóc khi kể về liệt sĩ Trương Quốc Hùng - người con trai dũng cảm của mẹ, anh nhập ngũ khi tuổi mới đôi mươi.

Ở tuổi 21, người ta vừa mới bắt đầu cuộc đời đã phải vội vàng kết thúc nó. Nhưng mẹ bảo: chết vì lý tưởng thì không có gì hối tiếc, mẹ chỉ có một điều hãy còn thương mãi, đó là khi xưa ở nhà gạo còn không đủ nấu cháo, bây giờ sung túc hơn thì lại không thể nấu cơm cho con mình được nữa. Tuổi tác không làm trí nhớ mẹ mờ đi. Biết bao nhiêu kí ức, từ những câu chuyện cũ thuở mẹ còn thiếu nữ, cho tới những chuyện kể của nửa thế kỷ sau - tất cả vẫn được mẹ nâng niu, cất giữ. Đó có lẽ là "két sắt vô hạn" ngay trong chính tâm khảm của mẹ. Đúc kết sau gần một đời người, mẹ chưa phải ân hận với bất cứ điều gì đã làm. Chợt nhớ tới phương châm sống của nhân vật Pavel trong tác phẩm "Thép đã tôi thế đấy" mà một thời thế hệ thanh niên Việt Nam đã thuộc nằm lòng: "Đời người chỉ sống có một lần, phải sống sao cho khỏi phải xót xa, ân hận vì những năm tháng sống hoài, sống phí" - Với phẩm chất ấy, tôi xin được gọi mẹ là mẹ Việt Nam anh hùng.


Khi đau thương là tột cùng, người ta hoặc sẽ chấp nhận nó, hoặc lãng quên nó cho tâm tình vơi theo cát bụi. Trong khi gia đình liệt sỹ Trương Quốc Hùng chọn cách thứ hai thì gia đình liệt sỹ Lê Văn Xanh đã giữ lại tất cả những kỉ vật của anh: từ những lá thư, những trang nhật ký, những bộ quần áo đến cả chứng minh nhân dân...


Nghỉ Tết, anh trở về quê hương Hòa Cường đoàn tụ gia đình. Bao tâm tư nỗi niềm người lính, anh được dịp trút bầu tâm sự hết với mẹ. Mẹ nói: anh tài hoa nghệ sỹ lắm, viết- vẽ- đàn- ca đủ cả. Đã hai mươi ba năm trôi qua, không biết ngoài gia đình anh còn mấy ai biết được chuyện tình của người lính tên Xanh? Thời còn ở nhà, anh quen một người con gái, theo gia đình kể lại thì giữa họ chắc chắn là tình yêu.

Tin anh hi sinh tại đảo Gạc Ma báo về quê nhà, người con gái đau đớn khóc ròng mấy ngày dài. Dù rằng giữa họ chưa rõ đã có hứa hẹn gì hay chưa, nhưng bởi nỗi nhớ mong, chị xin phép gia đình lập bàn thờ anh tại nhà riêng. Hàng năm, người con gái ấy vẫn qua lại gia đình nhang khói cho anh mỗi dịp lễ Tết và giỗ chạp, việc này diễn ra cho tới khi chị quyết định lấy chồng. Không biết phải nghĩ thương đau với chị là thế nào, hay do đường duyên tình trắc trở mà người chồng của chị cũng chết vì ngã trong khi thắp hương cho anh Xanh. Có lẽ là do sự đời quá trái ngang, chị đã mang theo chân nhang anh mà tìm đến nương tựa cửa Phật.

Sau tất cả những đau thương, người ta sẽ cố gìn giữ và ghi nhớ nó như một phần đã diễn ra trong cuộc đời mình, hay sẽ tự chôn kín như một điều gì đó riêng tư, khó chạm? Trong suốt cuộc trò chuyện, mẹ Lê Thị Muôn không tâm sự nhiều, nhưng gương mặt mẹ lại ẩn hiện nhiều nỗi niềm khó nói. Người con trai của mẹ - liệt sỹ Phan Văn Sự nhận lệnh nhập ngũ khi người anh cả đang tại ngũ và cha bệnh nặng trên giường. Được gia đình động viên "cứ yên tâm làm nhiệm vụ", anh Sự lên đường. Trước khi ra Trường Sa theo chiến dịch chủ quyền 1988 ( gọi tắt là chiến dịch CQ88), anh được nghỉ phép về thăm gia đình. Có lẽ đến giờ mẹ vẫn không tin, đó cũng là lần cuối gặp anh.

Cuộc hành trình tìm về những câu chuyện nơi Trường Sa của tôi tiếp tục dừng lại ở một ngôi nhà nhỏ quạnh vắng, chỉ có hai người tuổi đã xế chiều ngày ngày vui vầy với nhau. Đó là cha mẹ liệt sỹ Nguyễn Phú Đoàn. Cha anh trước đây cũng từng là lính, cũng có biết bao tấm huân chương ghi dấu chặng đường đấu tranh mà ông đã trải qua. Nhưng giờ đây, tuổi già đã khiến ông không còn đủ khỏe để chống lại bệnh tật, "cha" cứ cố ngồi dậy nghe cho rõ câu chuyện giữa mẹ-con tôi. Người phụ nữ mà tôi ngồi đối diện lúc ấy, bình thường và giản dị như bao người dân thường khác, nhưng mẹ đã hi sinh tuổi thanh xuân vò võ chờ chồng và rồi dâng cho đất nước một chiến sỹ quả cảm. Những chấm đồi mồi, từng nếp nhăn cứ xếp lớp như con sóng xô bờ, đến cuối đời, mẹ vẫn chưa hết những vất vả những lo toan. Cuộc đời lúc này cô quạnh, vắng bóng người... có ai hiểu vì sao? Màu áo hải quân, và giọt nước mắt người đầu bạc khóc kẻ tóc xanh...!


Sự đánh đổi được qui từ máu - nước mắt - tự do và hạnh phúc của nhiều người cho an lành của muôn người. Nhưng rồi, người ta cũng vô tình bị lãng quên...?!

Đây không phải là tất cả những câu chuyện làm thay đổi cung bậc cảm xúc trong tôi, cũng chưa phải là tất cả những gì tôi có thể diễn tả được như khi tôi được cảm nhận bằng mắt, bằng tai và bằng cả trái tim. Biết là thế, tôi xin phép được dừng lại, hi vọng có chút dấu lặng trong lòng các bạn. Tuy vậy, tôi chắc chắn một điều rằng, còn trải nghiệm thì tôi sẽ vẫn còn kể tiếp, kể tiếp các bạn nghe về Trường Sa nơi Đà thành vào một dịp khác không xa...

Theo chiều dài Tổ Quốc

"Lịch sử vùng III hải quân 1975 - 2005" do NXB Quân đội nhân dân đã ghi lại: "Ngày 14 tháng 3 năm 1988, khi các tàu vận tải cùng với bộ đội của ta đang thực hiện nhiệm vụ bảo vệ đảo Cô Lin, Gạc Ma và Len Đao, thì các tàu chiến của đối phương lao đến ngang ngược và bất chấp luật pháp quốc tế, họ đã dùng pháo lớn bắn vào các tàu HQ-604 ở đảo Gạc Ma, HQ-605 ở đảo Len Đao và HQ-505 ở đảo Cô Lin; cho quân đổ bộ lên đảo Gạc Ma nhổ cờ Tổ quốc, nổ súng vào bộ đội gây cho chúng ta nhiều tổn thất...".

Không sợ nguy hiểm, người chiến sĩ Trần Văn Phương đã lao vào giành giật lá cờ Tổ Quốc và trúng đạn. Anh để lại cho đời sau một di chúc: "Thà hi sinh chứ không chịu mất đảo, hãy để cho máu mình tô thắm lá cờ truyền thống của quân chủng hải quân anh hùng". Giây phút đó, anh đang là Phó chỉ huy trưởng đảo Gạc Ma (thuộc cụm đảo Sinh Tồn). Người thanh niên 23 tuổi này đã lỡ mất lời hứa "...về trông nhà cho em" với vợ mình.

Trở về Sài Gòn, đến bây giờ, tôi vẫn không ngờ mình gặp vợ người anh hùng ấy ngay giữa chốn phồn hoa đô thị này. Tôi gặp cô Mai Thị Hoa - vợ liệt sỹ Trần Văn Phương ( Quảng Trạch -Quảng Bình) giữa một chiều mưa gió. Nhắc tới anh, cô vẫn nghẹn ngào như câu chuyện vừa mới hôm qua. Trước khi theo tàu HQ 604 ra Trường Sa, anh còn dặn dò:

- "Mẹ cho con gửi nhà con ở đây, sau này hoàn thành nhiệm vụ, con sẽ về làm một căn nhà nhỏ rồi con đón vợ con qua"

- " Nếu em muốn biết thông tin về anh thì cứ nghe trên báo đài, đừng đợi thư anh"

" Sau này mà anh về, anh sẽ chỉ giữ nhà cho em đi làm thôi, anh không đi làm đâu"...


Vẫn là một ngày cuối đông gió rét, chúng tôi đi trên con đường xứ Thanh gập ghềnh sỏi đá, tới một ngôi nhà đã phủ rêu phong, quạnh vắng tiếng người. Nơi đây, chúng tôi được gặp những người con của liệt sỹ Vũ Phi Trừ - thuyền trưởng tàu HQ604. Tiếp bước cha mình, người con trai lớn của anh - anh Đăng hiện đang là chiến sỹ hải quân thuộc Lữ đoàn 125 - nơi cha anh đã từng sống và cống hiến, tiếp tục theo cha ghi dấu chân đứng trên mũi tàu bảo vệ biên cương Tổ Quốc. Người con trai út bây giờ đã là cựu sinh viên của Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP HCM.

Trái đất tròn, dòng đời xô đẩy những bước chân vô tình chạm nhau. Đôi khi bần thần, tôi chợt nghĩ: lòng Sài Gòn rất rộng, ôm trọn mọi kiếp người, từ Đông tới Tây, từ Nam chí Bắc.

Nghe vang vọng câu ca nơi vĩ tuyến:

"Đò xuôi Thạch Hãn ơi chèo nhẹ

Đáy sông còn đó bạn tôi nằm

Có tuổi hai mươi thành sóng nước

Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm"

Đất mẹ Quảng Trị anh hùng ghi dấu những người con ra đi không hẹn ngày trở về. Gió Lào và cát trắng, nghe như rát đến cả tâm can. Anh trai liệt sỹ Tống Sỹ Bái (Đông Hà - Quảng Trị) ngậm ngùi: "Không một kỷ vật, không một manh áo, không một nấm mồ!" - 'Nghe xót xa như rụng bàn tay'!. Cuộc nói chuyện của chúng tôi với gia đình liệt sĩ Hoàng Ánh Đông trở nên đầy xúc động khi mẹ của liệt sĩ nghẹn ngào trong nước mắt: "Năm tháng qua lo làm ăn lăn lộn với cuộc sống làm quên đi chứ tới những ngày này các con về thăm, mẹ thấy đau khổ lắm!". Sống mũi cay cay và đôi mắt nhòe đi, tôi cố gắng ghi lại những hình ảnh giây phút đó.

Nỗi đau mất mát là nỗi đau chung của bao người mẹ trên đất nước Việt Nam này, là nỗi đau của cả một thế hệ đứng giữa đoạn trường mà lịch sử phân chia. Ngày ấy, anh ra đi với tâm hồn phơi phơi của tuổi trẻ, hẹn ngày trở về với những khát vọng yêu thương. Dòng thơ viết nghiêng nghiêng trong trang lưu bút nói nên những tâm tư của buổi biệt ly: Biết khi nào gặp lại? Biết khi nào nhìn được mẹ thương yêu? Những người chiến sĩ ấy lên đường, hành trang mà họ tự gói ghém cho mình còn là niềm tin trở về. Dẫu bao gian nan đang chờ đợi, mặc cho sóng gió bão táp giữa biển khơi, các anh vẫn sống hết lòng cho lý tưởng, dành trái tim mình dâng tặng quê hương.

Cha mẹ liệt sỹ Hoàng Ánh Đông

Một trang lưu bút của liệt sỹ Hoàng Ánh Đông


Cám ơn TVN đã để lại cụm từ "Vòng tròn bất tử" cho mình :)



Thứ Bảy, 18 tháng 6, 2011

Chúng ta gặp nhau ở nơi gian khó nhất!


Anh: Chúng ta gặp nhau ở nơi gian khó nhất!


Em nghe mà xót lòng, trái tim cứ rung rinh liên hồi. Cũng bởi câu nói của anh rất tình, mà em thấy đất nước mình sao lắm gian lao. 40 thế kỷ cùng nhau ra trận đến bây giờ phận người vẫn long đong giữ nước.


Em vẫn nhớ những cái ôm rất vội, anh khẽ cười và nói "đời lính là vậy, có gì đâu mà khóc". Nghe một chút chua cay, một chút mất mát và đằng sau nó là rất nhiều oán hận.


Em sẽ chờ những cuộc hẹn rất xa, "gặp nhau giữa Sài Gòn" phồn hoa đô thị rồi "anh lại ra khơi/ Mây treo ngang trời những cánh buồm trắng..."